lördag 17 mars 2018

TÂM HỒN CAO THƯỢNG


Đây là câu chuyện có thật do chính người trong truyện thuật lại. Ông là một giáo viên người Anh. Mỗi khi kể, ông thường không cầm được nước mắt, xúc động nghẹn ngào. Ông nói:

Nhà tôi ở một phố giữa Thủ đô Luân Đôn. Một hôm, tôi vừa ra khỏi cửa thì gặp một cậu bé chừng mười hai, mười ba tuổi ăn mặt tồi tàn, rách rưới; mặt mũi gầy gò, xanh xao; chìa những bao diêm khẩn khoản mời ...tôi mua giúp một bao. Tôi mở ví tiền và chép miệng:

- Rất tiếc là tôi không có xu lẻ.
- Thưa ông , không sao ạ.Ông cứ đưa cho cháu một đồng tiền vàng . Cháu chỉ chạy loáng một lát đến hiệu buôn để đổi, rồi hoàn lại cho ông tiền lẻ còn thừa.
Tôi chăm chú nhìn cậu bé và lưỡng lự :
- Thật chứ ?
- Thưa ông , thật ạ. Cháu không phải là một đứa dối trá.
Nét mặt của cậu bé trông rất cương trực và tự hào tới mức làm tôi tin và giao ngay cho cậu một đồng tiền vàng. Nhưng năm phút, mười phút, rồi mười lăm phút trôi qua mà vẫn không thấy cậu trở lại. Tôi bắt đầu nghi ngờ cậu bé. Nửa giờ sau, chờ mất công, tôi lững thững tiếp tục cuộc dạo chơi và tự nhủ:'' Cần rút kinh nghiệm, không nên tin vào bọn trẻ này''! Vài giờ sau, khi trở về nhà, tôi ngạc nhiên , thấy có một cậu bé đang đợi tôi. Diện mạo cậu bé này rất giống cậu bé đã cầm tiền của tôi, nhưng nhỏ hơn vài tuổi, gầy gò, xanh xao hơn và thoáng một nỗi buồn tuyệt vọng:
- Thưa ông , có phải ông vừa đưa cho Rô-be một đồng tiền vàng không ạ ?
Tôi kẽ gật đầu . Cậu bé tiếp :
- Thưa ông , đây là tiền lẻ hoàn lại... Rô-be nhờ cháu... mang đến trả ông…
Rô-be là anh cháu… chúng cháu mồ côi… Anh cháu không thể mang tiền trả ông được.. vì anh ấy bị xe đụng… đang nằm ở nhà và khó lòng… sống nổi…
Em bé không nói được hết câu vì những tiếng nấc xé lòng. Tôi sững sờ cả người, tim se lại vì hối hận, hỏi dồn:
- Vậy bây giờ Rô-be ở đâu? Hãy đưa tôi đến.
Sau khi dừng lại một chút trước chiếc hầm nhỏ của một căn nhà đổ nát, em bé nói:
- Thưa ông, đây là nhà của chúng cháu.
Trong một góc tối của căn hầm, cạnh chiếc bếp lò cũ kĩ đã tắt ngắm từ lâu, giữa một đống giẻ rách, tôi nhận ra Rô-be nằm dài, bất động. Mặt em lúc này trắng bệch. Một dòng máu đỏ từ trán chảy xuống. Rô-be đưa mắt nhìn về phía tôi, giọng thều thào, yếu ớt:
- Thưa ông, ông hãy lại gần đây.
Tôi quỳ xuống bên em, cầm lấy bàn tay em- bàn tay khẳng khiu, gầy gò, đáng thương, lạnh ngắt.
- Sác-lây, em đưa tiền trả ông rồi chứ?
Cậu bé gật đầu, mắt vẫn sưng mọng.
- …Ôi! Đấy, ông xem, cháu không phải là đứa dối trá mà.
Tôi cúi sát xuống người em, cầm lấy bàn tay em, hôn vào chỗ trán bị thương nứt rạn và nói với Rô-be rằng:
” Em hãy bình tâm, dù bất cứ tình huống nào, tôi cũng sẽ nuôi nấng Sác-lây cho em”.
Tôi nói dịu dàng, âu yếm an ủi Rô-be, để cái chết của em được thanh thản. Bàn tay khốn khổ của em nằm gọn trong tay tôi lạnh dần, lạnh dần…
Em bé nghèo túng của tôi đã từ giã cõi đời quá ngắn ngủi như vậy đấy. Cái chết đó làm cho tôi thấy rằng, trong cuộc đời tôi chưa hề được thấy một cử chỉ, hành động nào đẹp đẽ, cao cả như vậy. Một tâm hồn vô cùng cao thượng ẩn náu trong một em bé sống trong cảnh rất đỗi cực khổ nghèo nàn.

☜(❤‿❤)☞☜(❤‿❤)☞☜(❤‿❤)☞☜(❤‿❤)☞☜(❤‿❤)☞☜(❤‿❤)☞

söndag 11 mars 2018

Nhạc sĩ Việt Khang sắp gặp gỡ đồng hương Bắc và Nam Cali

Nhạc sĩ Việt Khang sắp gặp gỡ đồng hương Bắc và Nam Cali
Nhạc sĩ Việt Khang, tác giả của hai ca khúc “Việt Nam Tôi Đâu” và “Anh Là Ai”, sắp có dịp gặp gỡ đồng đồng hương Bắc California, để nói lời cảm tạ.
Sự kiện này nằm trong một loạt các hoạt động của nhạc sĩ Việt Khang cảm ơn cộng đồng Người Việt tại Hoa Kỳ. Sau 4 năm bị CSVN giam cầm và 2 năm quản chế chỉ vì thể hiện lòng yêu nước, nhạc sĩ Việt Khang hồi đầu tháng 2 đã đến được Hoa Kỳ nhờ sự vận động của các tổ chức, cộng đồng người Việt hải ngoại, cùng với sự can thiệp của Thượng Nghị Sĩ John Mc Cain.
Nay nhằm tạo cơ hội cho Việt Khang có dịp gặp gỡ đồng hương Bắc California để nói lời cảm tạ, đồng thời cũng là dịp để đồng hương chào mừng, thăm hỏi, cũng như được nghe Việt Khang trình bày những ca khúc của mình, một chương trình văn nghệ đấu tranh sẽ được tổ chức tại San Jose do Nhóm Thân Hữu Bắc California, phối hợp với đài truyền hình SBTN cùng sự hỗ trợ của nhiều hội đoàn tại địa phương.
Ngoài sự hiện diện của nhạc sĩ Việt Khang và nhạc sĩ Trúc Hồ, còn có các ca nghệ sĩ của SBTN như Hồ Hoàng Yến, Đoàn Phi, Sỹ Đan, và ban nhạc Trúc Sinh. Tại địa phương, các ca sĩ hàng đầu như Bé Hải Âu, Bé Jenny Đan Anh, Vivian Huỳnh, Đồng Thảo, Hoàng Đoàn, Quỳnh Hoa, Đoàn Du Ca Bắc California và Câu Lạc Bộ Liên Trường Quảng Đà cũng góp mặt trong chương trình.
Buổi hội ngộ Việt Khang sẽ diễn ra từ 1 giờ đến 6 giờ chiều ngày Thứ Bảy 24 tháng 3 năm 2018, tại Unify Event Center, địa chỉ 765 Story Road, San Jose, CA 95122.
Sự hiện diện đông đảo của quý đồng hương sẽ có ý nghĩa cổ vũ tinh thần, khuyến khích và tạo cơ hội cho Việt Khang- một nhạc sĩ, một ca sĩ, một chiến sĩ dũng cảm- được tiếp tục sáng tác, dùng khả năng âm nhạc của mình như một vũ khí để góp phần vào công cuộc đấu tranh đòi tự do, công lý, dân chủ và nhân quyền tại quê nhà.
Sau buổi gặp gỡ đồng bào tại San Jose, nhạc sĩ Việt Khang sẽ có mặt tại Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ thành phố Westminster vào ngày Chủ Nhật 25/03, từ 1:00- 5:00, để tham dự Chiều Nhạc Người Yêu Nước, để nói lời cảm ơn đồng bào tại Nam Cali.
Tất cả những buổi gặp gỡ đồng hương đều vào cửa miễn phí.
Huy Lam / SBTN

lördag 24 februari 2018

Nỗi buồn việt khang


Việt Khang-Trúc Hồ, hai nhạc sĩ, một mối tình thâm



Điều gì đã đưa Trúc Hồ ở Mỹ và Việt Khang ở VN đến với nhau?
Ngoài giòng máu Việt Nam, thì âm nhạc, hay sự quan tâm đến đất nước là nhịp cầu đã đưa hai người nhạc sĩ tuổi đời cách nhau hơn một thập niên, và ở xa nhau cả nửa Địa cầu đến với nhau?
Trả lời phỏng vấn của BBC, nhạc sĩ Việt Khang cho đó là 'cơ duyên'.
Đáp lời sông núi, anh em ta đáp lời sông núi
Quyết bảo vệ giang san ta thà chết cho quê hương.
Đây muôn triệu con tim, đây muôn triệu khối óc,
Cùng giòng máu Việt Nam.
Đây Hai Bà Trưng, đây Lý Lê Trần,
Bốn ngàn năm chưa một lần khuất phục ngoại xâm…
(Đáp lời sông núi, Trúc Hồ, 2008)
Đó là tâm tư mà nhạc sĩ Trúc Hồ, lúc ấy 45 tuổi đã gửi đến người Việt Nam, trong nhạc phẩm có tên 'Đáp Lời Sông Núi'.
Đáp Lời Sông Núi được phổ biến cùng với nhiều tác phẩm khác phát hành khoảng năm 2009, đã không vào Việt Nam qua ngả đường chính thức, và vì thế, rất lâu mới đến được với người nghe.
Tâm tư tưởng rằng 'gửi gió cho mây ngàn bay' này của nhạc sĩ Trúc Hồ đã làm một thanh niên trẻ đam mê nhạc ở Việt Nam xúc động.
Võ Minh Trí, tên chàng thanh niên lúc ấy 34 tuổi, lên tiếng khẳng định:
…Là một người con dân Việt Nam
Lòng nào làm ngơ trước ngoại xâm
Người người cùng nhau
Đứng lên đáp lời sông núi…
(Việt Nam Tôi Đâu, Việt Khang, 2011)
Một người hô và một người xướng.





Việt Khang, Trúc HồBản quyền hình ảnh Nhân vật cung cấp
Image caption Một đoạn trong bài 'Việt Nam tôi đâu' của nhạc sỹ Việt Khang

Nói về những giây phút đầu tiên bỡ ngỡ đặt chân đến phi trường LAX tại Los Angeles, California, Việt Khang tâm sự:
''Việt Khang hôm đó bất ngờ rất lớn trước sự đón nhận của đồng bào, nhiều người kêu tên Việt Khang, Việt Khang, không biết nhìn ai luôn, chỉ chỉ biết gật đầu, biết cúi đầu chào, và chỉ biết kêu tên anh Trúc Hồ, tìm coi anh Trúc Hồ đâu…''
''Anh Trúc Hồ là người Việt Khang biết từ bé, không hiểu sao em cảm nhận được, thích cái giòng nhạc đó, thích giai điệu của anh. Từ khi chậm chững mới vào cái nghề ca hát, em đã hát những bài nhạc của anh Trúc Hồ. Những nhạc phẩm Việt Khang sáng tác có mang ảnh hưởng của anh Trúc Hồ, điều này anh Trúc Hồ biết, và nói thật lòng là Việt Khang yêu quý anh Trúc Hồ đã từ lâu.''
''Lúc đó thì thấy em mình nó qua được rồi có bao nhiêu người tiếp đón thì mình đứng đó mình mừng. Mình mừng cho đến khi mình thấy nó kêu mình 'anh Hồ ơi, anh Hồ ơi' thì chạy đến mình không biết nói gì, chỉ ôm nó một cái thôi.'' Nhạc sĩ Trúc Hồ thổ lộ.
Trả lời câu hỏi có ai khóc không, cả hai im lặng giây lát, rồi Việt Khang ngần ngại nhìn sang Trúc Hồ, tố cáo:
''Anh Trúc Hồ khóc, anh khóc quá trời!''
''Ôm nó cúi đầu xuống để không ai thấy không ai biết gì hết trơn…'' Trúc Hồ thú nhận.
''Cái người anh Hồ ảnh rung rung vậy nè, tại ảnh khóc, ảnh mừng đó.''





Việt Khang, Trúc HồBản quyền hình ảnh Nhân vật cung cấp
Image caption Cộng đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ chào đón Việt Khang khi nhạc sỹ mới đặt chân tới sân bay

Làm sao tả hết được mối thâm tình của họ?
Trúc Hồ cho biết anh 'không biết Việt Khang là ai' cho đến khi xem bản tin của một phóng viên SBTN ở San Jose đưa tin là có một nhạc sĩ sáng tác ở Việt Nam bị bỏ tù.
''Vào Youtube xem thì Trúc Hồ mới biết được mặt Việt Khang, rồi mới thấy người nhạc sĩ này viết nhạc hay, và còn hát hay nữa. Việt Khang hát bài 'Một Mai Giã Từ Vũ Khí' rất là hay.'' Nhạc sĩ Trúc Hồ hồi tưởng.
Ông tâm sự:
''Mình thấy thương cho một người nhạc sĩ rất yêu nước mà lại bị ở tù. Bản thân mình cũng là một nhạc sĩ thì cảm thấy chuyện đó là điều không thể xẩy ra được ở đất nước mà mình đang sống, nhưng đã xẩy ra ở Việt Nam.''
''Từ đó Trúc Hồ tìm mọi cách để giúp Việt Khang. Việt Khang là một người có khiếu sáng tác nhạc, quan tâm tới đất nước, có giọng hát hay, thì anh nên sống ở cái nơi anh được quyền sáng tác, được quyền nói lên những suy nghĩ của mình. Đó là việc cần phải làm. Sau sáu năm trời thì rốt cục anh em cũng đã gặp được nhau.''
Trả lời câu hỏi mối cảm thông giữa hai bên đã ảnh hưởng đến từng người ra sao, ông Trúc Hồ đáp:
''Thì tôi quan tâm đến nhân quyền cho Việt Nam nhiều hơn. Trước đó tôi chỉ sáng tác những bài nhạc yêu nước, và chống ngoại xâm, nhưng sau khi thấy một người thanh niên yêu nước, yêu nước nhe, và chống ngoại xâm, mà còn đi tù, thì còn có điều gì mà họ không làm để áp bức người dân, vì thế Trúc Hồ bắt đầu để ý đến những vấn đề vi phạm nhân quyền nhiều hơn, và dùng âm nhạc để kêu gọi mọi người cùng quan tâm đến những quyền căn bản mà người dân ở nước nào cũng phải có bằng cách sáng tác những bài như 'Triệu Con Tim', 'Thiên Thần Trong Bóng Tối'...
Sáu năm tù tội, phải xa cách gia đình, mất hết tự do, có phải là cái giá quá đắt cho việc sáng tác không, và nếu đi ngược lại được giòng thời gian, liệu anh có làm khác đi không, Việt Khang thoáng buồn pha chút khôi hài:
''Là người sống trong nước, Việt Khang biết là mình thốt ra những lời chống ngoại xâm như vậy thì rất nguy hiểm, và cũng tìm cách bảo vệ bản thân, không lấy tên thật. Cũng không nghĩ sẽ đi tù lâu như vậy, mình mới sáng tác vài bài hát, nghĩ nếu có đi tù thì chắc cũng một năm thôi, ví dụ vậy, ai ngờ… hơi bị lâu…''
Rồi ông nói:
''Việc gì cũng có cơ duyên. Con người nào cũng có định mệnh. Gọi là định mệnh thì con người mình bé nhỏ không thể nào cưỡng lại được. Việt Khang thấy là trong suốt thời gian qua, nhất là thời gian ở trong tù, trải qua rất nhiều nỗi niềm mà bình thường không phải ai cũng trải nghiệm được.
Trải nghiệm để được trưởng thành hơn, để được vững vàng hơn, để có được những tác phẩm sau này, để những tác phẩm của Việt Khang thật hơn, nó lột tả được những khó khăn mình phải đối diện lúc trong tù, cả lúc về nhà với bao thay đổi…''
Kể về một kỷ niệm sâu đậm nhất giữa hai người, ông Trúc Hồ nói:
''Một kỷ niệm sẽ suốt đời không quên là hai anh em lo lắng từng ngày cho lần đi kỳ trước. Ngày 31/01 đi, thì ngày 30 Việt Khang có vé máy bay rồi, nhưng cuối cùng lại không đi được. Hai anh em lo lắng quá. Việt Khang phải an ủi Trúc Hồ, thôi anh Trúc Hồ đừng lo quá, số mệnh đã được ơn trên an bài rồi, trước sau gì em cũng phải được đi thôi...''
Rồi ông cười:
''À Việt Khang có chuyện này hay lắm. Hỏi tôi 'Anh Hồ ơi, khi mà em xuống máy bay á, mình có phải đi trình diện địa phương không? Bên này nó không phải như bên kia. Bây giờ Quốc Khanh là địa phương của em, là cái nhà, bây giờ Việt Khang đi đâu cũng phải xin phép địa phương…''





Việt Khang, Trúc HồBản quyền hình ảnh Nhân vật cung cấp
Image caption Chân dung nhạc sỹ Việt Khang trên một thông cáo báo chí tại Hoa Kỳ

Ông nói tiếp:
''Nghe Việt Khang nói thì Trúc Hồ mới cảm nhận là Việt Khang ở tù lâu quá. Trong cuộc đời Trúc Hồ cũng đã ở tù hai lần, năm 16 tuổi ở tù ở Vĩnh Long vì tội vượt biên, ở có một tuần.
Sau khi ở tù về thì vẫn năm 16 tuổi, cha mẹ tìm đường cho vượt biên bằng đường bộ, lại bị bỏ tù, vì Thái Lan buộc tội làm điệp viên. Cũng chỉ một tuần thôi, mà bảy ngày đó sao thấy nó khủng khiếp quá. Đó là tù Thái Lan đó...Không thể nào tưởng tượng nổi thằng em mình nó bốn năm ở tù, rồi ra tù bị giam ở nhà hai năm, thì nó kinh khủng như thế nào, mới thấy thằng em của mình nó chịu đựng giỏi quá.''
Nói về dự tính tương lai, liệu hai người có sáng tác chung không, Việt Khang nói:
''Thì còn tùy duyên thôi, hai anh em bây giờ đã kế bên nhau rồi, chuyện gì cũng có thể xảy ra…''
Bài viết của Tina Hà Giang, Trưởng biên tập Văn phòng Bangkok của BBC Tiếng Việt.

lördag 17 februari 2018

Bài Hát Đấu Tranh - Sáng Tác và Trình Bày NS Nguyệt Ánh


Anh hãy hát đi, hát cho người chốn lao tù 
Em hãy hát đi, hát cho người sống lưu đày 
Tôi vẫn hát đây, hát cho người đang chiến đấu chốn quê hương, hay trên khắp địa cầu 
 Anh hãy hát đi, hát cho tan hết gông cùm 
Em hãy hát đi, hát cho sụp đổ lao tù 
Tôi vẫn hát đây, hát cho cộng quân lui bước giống vô lương đang tàn sát dân lành 
Anh hãy hát đi! Em hát đi! Tôi hát đây! 
Ta hát vang lời ca đấu tranh Anh hãy hát đi!
Em hát đi! Tôi hát đây! Mỗi bài ca là viên đạn chống xâm lăng 

ĐK: Anh hãy hát đi, hát cho Mẹ vẫn mong chờ 
Em hãy hát đi, hát cho bạn trong lao tù 
Tôi vẫn hát đây, hát cho ngày mai chiến thắng khách ly hương, xuôi tàu cũ quay về 
Anh hãy hát đi, hát cho Con chốn quê nhà 
Em hãy hát đi, hát cho Vợ vẫn mong Chồng 
Tôi vẫn hát đây, hát cho Việt Nam tươi sáng khắp Quê Hương không còn bóng quân thù

fredag 13 oktober 2017

Bài hát: Xin Lỗi Mẹ - Sáng tác & Trình bày: Randy



Thời gian qua, vô tình không nghĩ tới 
Phận làm con, hiếu nghĩa đáp chưa tròn. 
Mẹ buồn con, có bao giờ con biết 
Con xin lỗi mẹ, tha thứ cho con. 

Mẹ thương con, đã hy sinh trọn kiếp 
Vạn niềm đau, mẹ dấu kín trong lòng. 
Mẹ cười vui tuy đời không thuận ý 
Miếng ngon mẹ nhường, hơi ấm trao con. 

[Điệp khúc:] 
Mẹ đừng vội xa, bỏ con Mẹ ơi 
Thiếu tình Mẹ, con biết sống sao đây 
Trời phủ mây, bóng tối sẽ giăng đầy 
Và ngục tù đời, cướp từng hơi thở 
Mồ côi Mẹ rồi, khổ có ai hay. 

Này con ơi, trần gian ai cũng thế 
Tại tạm thôi, ai cũng phải đi về. 
Còn tương lai, phải trân trọng từng phút 
Sống cho nên người, hãy nhớ nghe con. 
(Còn tương lai, phải trân trọng từng phút 
Sống cho gia đình, hãy nhớ nghe con). 

söndag 24 september 2017

'The Vietnam War' và khi Hoa Kỳ vào VN- TS Nguyễn Tiến Hưng Gửi tới BBC từ Virginia, Hoa Kỳ

Tổng thống VNCH Ngô Đình DiệmBản quyền hình ảnh Carl T. Gossett Jr
Image caption Bộ phim đã nêu ra lời phán xét về Cố Tổng thống VNCH Ngô Đình Diệm
Năm 1958, từ Đại học Virginia ở Charlottesville, chúng tôi đã theo dõi cuộc chiến Việt Nam từ lúc khởi sự thời Eisenhower tới lúc Mỹ đưa quân vào thời Kennedy, rồi leo thang thật nhanh, thời Johnson.
Chúng tôi cũng đã xem và tham gia phim Cuộc Chiến Mười Ngàn Ngày (The Ten Thousand Day War) của Michael Maclear được chiếu năm 1980.
Bộ phim 26 giờ đó còn dài hơn phim 18 giờ của Ken Burns và Lynn Novick.
Với những kinh nghiệm cá nhân và sưu tầm nhiều năm, nhất là từ tài liệu The Pentagon Papers dài 7,000 trang, được giải mật ngày 13/6/2011, chúng tôi đã viết về giai đoạn Mỹ mang quân vào Việt Nam trong cuốn sách 'Khi Đồng Minh Nhảy Vào' (KĐMNV) với gần 900 trang gồm nhiều tài liệu gốc, xuất bản năm 2016.
Năm phần đầu bộ phim của Ken Burns và Lynn Novick nói về cùng một thời điểm như cuốn 'Khi Đồng Minh Nhảy Vào', từ thập niên 40 tới cuối 1967. Cách bố cục cũng giống, nhưng với những tựa đề có kịch tính.
Thí dụ như tựa đề cho Tập 2: Dòng Sông Styx (The River Styx) rất hấp dẫn vì Styx là một dòng sông trong thần thoại Hy Lạp nói đến ranh giới giữa trái đất này và thế giới bên kia hay cõi chết. Nó cũng còn có ý nghĩa như địa ngục.
Từ Tập 3 tới Tập 5 hầu hết chỉ chiếu lại những trận chiến lớn: An Khê, (trận đầu tiên), Plei Me, Ia Drang, Pleiku, Bình Giã, Đồi 1338, Đồi 875. Đây là những trận đã được chiếu nhiều lần trong các phim Mỹ về chiến tranh Việt Nam.
Ken Burns và Lynn NovickBản quyền hình ảnh David Hume Kennerly/Getty Images
Image caption Nhóm làm phim The Vietnam War và các chính khách Hoa Kỳ từng tham chiến ở VN
Cái mới là có những câu chuyện thương tâm hơn, đau đớn hơn của những người quân nhân Mỹ và gia đình của họ.
So với phim của Michael Maclear, những hình ảnh trong phim này cũng không có gì mới lạ. Tuy nhiên phim được làm sống động hơn, rất ấn tượng nhờ áp dụng kỹ thuật mầu sắc, ca nhạc, âm thanh tân tiến cùng với nhiều cuộc phỏng vấn những người tham chiến và cách dẫn giải của các bình luận gia.
Trong khuôn khổ giới hạn của bài này, chúng tôi tập trung nhiều hơn vào hai phần đầu vì ba phần sau hầu hết là chiếu lại những trận chiến lớn như đã đề cập.
Trên mạng BBC Tiếng Việt có bài tường thuật về buổi giới thiệu cuốn phim ở Sàigòn. Cuối phần trả lời các câu hỏi, đạo diễn Lynn Novick tóm tắt về bộ phim:
"Chúng tôi muốn biết cái gì đã xảy ra ở nơi đây … mô tả thực tại, chiến tranh, chiến trường, sự chết chóc, sự hy sinh…Chúng tôi cố gắng không phán xét. Chúng tôi nói về những trải nghiệm tối tăm nhất trong cuộc đời nhân vật. Chúng tôi cố gắng trung thực với những bi kịch, kể câu chuyện từ nhiều phía, và tìm cách thể hiện rất nhiều trải nghiệm của người Việt Nam trong cuộc chiến."
Hai nhà làm phim cho rằng: khác với vô số tài liệu và phim ảnh về cuộc chiến đã có trước đây chỉ trình bày những gì người Mỹ làm, hay những chiến trận hay đau khổ của người Mỹ (như phim Apocalypse Now hay Platoon), phim The Vietnam War sẽ cho cử tọa biết thêm nhiều về những biến cố, những câu chuyện về thân phận cá nhân xảy ra cho người Việt Nam, được kể lại trong các cuộc phỏng vấn từ mọi phía, với các tham dự viên người Việt ở cả hai phía Miền Bắc và Miền Nam Việt Nam.
Cao xạ Bắc VNBản quyền hình ảnh Getty Images
Image caption Bắc VN thời chiến: một đơn vị cao xạ phòng không đang nhả đạn

Phán xét về Ngô Đình Diệm

Dù đã có một chiến lược tiếp cận rất hay và đầy tính cách con người, bộ phim có nhiều khuyết điểm.
Sau đây là những thí dụ:
Hai nhà đạo diễn Ken Burns và Lynn Novick nói là "không phán xét" nhưng thực ra là có phán xét một cách thầm kín. Thí dụ như đoạn phim Mỹ chiến đấu trong những năm 1966-1967 được lồng vào đoạn phim hình ảnh trong cuộc chiến khốc liệt của Pháp trong thập niên 40-50.
Như vậy là coi người lính Mỹ cũng giống như người lính Pháp: áp bức, tàn bạo? Và rồi Mỹ cũng sẽ lặp lại những sai lầm của thực dân Pháp?
Phim phán xét về TT Ngô Đình Diệm:
"Ông là con người tàn nhẫn, không tin ai ngoài gia đình, lanh lợi, tháo vát, biết khai thác những yếu điểm của đối phương."
Rồi họ gán cho ông một biệt hiệu: "Đấng Cứu thế không có thông điệp."
Ngô Đình DiệmBản quyền hình ảnh John Dominis
Image caption Tổng thống Ngô Đình Diệm trong một hình tư liệu
Phán xét này ngược hẳn với đánh giá của tờ New York Times năm 1957, gọi ông Diệm là "một người giải phóng Á Châu," hay tuần báo Life: "Con người cứng rắn và như phép lạ của Việt Nam," hay Nghị sĩ Jacob Javits (tiểu bang New York): "Ông là một trong những anh hùng của thế giới tự do."
Nghị sĩ Mike Mansfield thì từng ca ngợi ông Diệm:
"Công trạng ngăn chặn được xâm lăng của Cộng sản ở Việt Nam, và vì vậy ở cả Đông Nam Á, là do sự quyết tâm, can đảm, trong sạch và chính trực của Tổng Thống Diệm, một người đã chứng tỏ khả năng rất cao trước những khó khăn thật là to lớn."
Năm 1961, Phó Tổng thống Johnson đi xa hơn, gọi ông Diệm là "Winston Churchchil của Đông Nam Á".
Phim muốn kể câu chuyện từ nhiều phía…rất nhiều trải nghiệm của người Việt Nam trong cuộc chiến" nhưng đã phỏng vấn rất ít người từ phía VNCH, mà cuộc chiến xảy ra căn bản là ở Miền Nam Việt Nam.
Thời giờ dành cho những người này cũng rất vắn vỏi, coi như chỉ qua loa để gọi là có phỏng vấn. Đâu là những hình ảnh và câu chuyện của những người quân nhân anh dũng của VNCH? Đâu là những hình ảnh vợ con của họ sống trong cảnh khó khăn, cô đơn ở thôn quê Miền Nam, chờ mãi không thấy chồng về?
Thiên tả và chống VNCH?
Về phía các bình luận gia thì Neil Sheehan (ký giả thiên tả, cực lực chống đối chinh phủ VNCH) là một trong những diễn giả chính của phim. Không thấy có phỏng vấn những tác giả thuộc thành phần xét lại như Mark Moyar, Lewis Sorley.
Một sai sót lớn: phim đã khai thác khá dài về Trận Ấp Bắc (1/1963) dựa trên cuốn A Bright Shining Lie (Lời nói dối sáng ngời) của Neil Sheehan, đổ lỗi cho người chỉ huy quân đội VNCH và ca tụng ông Paul Vann hết lời.
Tác giả Moyar đã thuật lại chi tiết trận đánh, địa hình địa vật, và quân số hai bên, cũng như diễn tiến trận đánh, để đi đến nhận xét rất rõ ràng về những dối trá của Paul Vann khi ông cung cấp thông tin về trận này cho Sheehan ( 'Khi Đồng Minh Nhảy Vào', trang 470-472).
Phim không đề cập tới một thực tại quan trọng ở Việt Nam trong thập niên 40, đó là sự hình thành của Chính phủ Quốc Gia Việt Nam (QGVN).
Đâu là câu chuyện Đại sứ Nhật Yokohama đến gặp Hoàng đế Bảo Đại để chuyển giao nền độc lập sau khi lật đổ Pháp (11/3/1945):
"Tâu Hoàng Thượng, đêm hôm qua chúng tôi đã chấm dứt chủ quyền của Pháp quốc trên đất nước này. Tôi được trao nhiệm vụ dâng nền độc lập của Việt Nam cho Hoàng Thượng."
Bảo ĐạiBản quyền hình ảnh Joseph Scherschel/Getty Images
Image caption Quốc trưởng Bảo Đại cùng tướng Pháp, Rene Cogny duyệt hàng quân của Quốc gia Việt Nam
Có nghĩa là trao độc lập của toàn thể lãnh thổ gồm cả các hải đảo mà Nhật đã chiếm như Hoàng Sa, Trường Sa. Hoàng đế Bảo Đại tuyên bố độc lập và thành lập chính phủ Trần trọng Kim.
Tới lúc ký Hiệp định Geneva chia đôi lãnh thổ thì chính phủ QGVN đã được 35 quốc gia công nhận. Sau Geneva, chính phủ VNCH tiếp nối QGVN. Hiệp định Geneva có Trung Quốc ký vào, như vậy là TQ đã công nhận Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về Việt Nam. Đây là một sự kiện quan trọng giúp cho Việt Nam trong bối cảnh tranh chấp hiện nay ở Biển Đông.
Phim cũng không nói đến bức thư đầu tiên của lãnh đạo Việt Nam, Hoàng Đế Bảo Đại gửi Tổng thống Truman ngày 18/8/1945?
Nhật vừa trả độc lập, Hoàng đế Bảo Đại đã viết ngay cho Tổng thống Truman yêu cầu Pháp phải tôn trọng nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc và trả lại độc lập cho Việt Nam:
"Thưa Tổng thống, chế độ thuộc địa không còn thích hợp với chiều hướng lịch sử hiện tại… Nước Pháp phải vui lòng nhìn nhận điều đó để tránh khỏi thảm họa chiến tranh trên đất nước chúng tôi."(KĐMNV, trang 35).
Cùng ngày, ông gửi một tâm thư cho Tướng Charles de Gaulle: "Nếu các ngài trở lại… mỗi làng xóm sẽ trở nên một tổ kháng chiến, mỗi người bạn sẽ trở nên một kẻ thù."
Về phía Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, phim có nói tới một bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh (với chữ ký của ông) gửi TT Truman yêu cầu Mỹ ngăn chặn Pháp trở lại và ủng hộ nền độc lập Việt Nam. Chúng tôi có đăng bản chụp bức thư trong cuốn Khi Đồng Minh Tháo Chạy ở trang 709-710.
Thực ra là có tất cả tới 14 văn thư và công hàm của ông Hồ gửi Tòa Bạch Ốc và Bộ Ngoại giao Mỹ, yêu cầu ủng hộ nền độc lập và cứu trợ nạn đói đang hoành hành khắp mền Bắc. Về bức thư được trích dẫn, người bình luận trong phim (Leslie Gelb) nói rằng thư này không tới tay tổng thống Truman (có thể với hàm ý là vì vậy cho nên ông Truman không trả lời).
Điều này là không đúng, vì trong 14 văn thư và công hàm được tóm tắt trong Phụ Lục cuốn Khi Đồng minh Nhảy vào (trang 704-721) có một văn kiện (ngày 17/10/1945) do chính telex của tòa Bạch Ốc in lại.
Trong cuốn 'Khi Đồng minh Nhảy vào' chúng tôi có viết:
"Như vậy là cả hai phía Việt Minh và Quốc Gia đều cầu cứu Mỹ ngăn chặn Pháp trở lại Việt Nam. Thời gian đó, nạn đói lại đang hoành hành ở miền Trung và miền Bắc, chết từ 1,5 tới 2 triệu người. Xem như vậy, ta có thể đặt ra một câu hỏi: nếu như lúc ấy Mỹ đáp ứng yêu cầu của cả hai phe phái Việt Nam để ngăn chận Pháp và đặc biệt là cứu trợ nạn đói 1945 thì lịch sử đã ra như thế nào? Liệu có Vietnam War hay không? Mỹ có thể dễ dàng mở một Tòa Lãnh sự ở Việt Nam để sử dụng số gạo thặng dư quá nhiều của mình để cứu vớt gần 17% dân số Việt nam trong cảnh đói rét. Trong trường hợp ấy toàn dân Việt Nam sẽ hoan hô Mỹ, và Pháp đã không thể trở lại. "
Đến thời chính phủ VNCH, cuốn phim nhận định không đúng về việc Mỹ ủng hộ ông Diệm từ ban đầu.
Một bình luận gia (hình như Leslie Gelb) nói:
Tổng thống Lyndon Johnson, Tướng Westmoreland, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và Tướng Nguyễn Cao KỳBản quyền hình ảnh Getty Images
Image caption Từ trái: Tổng thống Lyndon Johnson, Tướng Westmoreland, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và Tướng Nguyễn Cao Kỳ
"Chúng tôi muốn giúp xây dựng một chính phủ hợp pháp. Chúng tôi tin vào ông Diệm - hay cũng là nạn nhân của ông ta."
Đây là nhắc lại bình luận của giới truyền thông thiên tả mà chúng tôi đã thường nghe/xem trong những năm 1958-1963.
Bây giờ, sau trên nửa thế kỷ, với bao nhiêu nghiên cứu mới, giải mật, thông tin mới mà phim vẫn còn "kể lại cho trung thực" kiểu này thì làm sao ta hiểu nổi? Sự thật là ngay từ ban đầu Mỹ đã không tin vào ông Diệm (xem KĐMNV, Chương 10-11).
Sau đây là những gì đã xảy ra:
Tháng 7, 1954 ông Diệm chấp chính, thành lập chính phủ;
Tháng 8, 1954 Đại sứ Mỹ Donald Heath đề nghị về Washington: "Ta phải để ý theo dõi tìm một lãnh đạo khác;"
Tháng 12, 1954: Tướng Collins, Đặc ủy của TT Eisenhower đề nghị "Mỹ chỉ nên ủng hộ ông Diệm thêm vài ba tuần nữa thôi."
Đầu tháng 4, 1955 Tướng Collins đề nghị rõ ràng về 5 bước để loại bỏ ông Diệm.
Cuối tháng 4, 1955 Washington gửi chỉ thị tối mật: thay thế thủ tướng Diệm.
Như vậy là chỉ nội trong 10 tháng chấp chính, Mỹ đã muốn lật đổ Thủ tướng Diệm.
Phim cũng không nói đến các thành quả kinh tế, xã hội mà phía Việt Nam Cộng Hòa đã gặt hái như "5-Năm Vàng Son 1955-1960". Về hành chánh đã có các cán bộ được huấn luyện chu đáo trong hai thập kỷ bởi Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, chẳng thua gì Ecole Nationale D'Administration của Pháp (nơi sản sinh các lãnh đạo Pháp), các đại học Luật khoa, Y khoa, nơi sản xuất ra các luật sư, thẩm phán biết đẩy mạnh truyền thống pháp trị (rule of law) và các bác sĩ làm việc trong bệnh viện thay thế bác sĩ Pháp.
Miền Nam Việt Nam thực sự đã đặt được những viên gạch đầu tiên trong các năm 1955-1960 cho mô hình phát triển sau này của chính Nam Hàn dưới thời TT Park Chung Hee.
Tại sao có chiến tranh Việt Nam - Why Vietnam War?"
Phim lấy tên là Vietnam War mà lại không chiếu hình ảnh và phỏng vấn về "tại sao có chiến tranh Việt Nam - Why Vietnam War?" Đây là thiếu sót rất quan trọng.
Ví dụ như TV không thể chỉ chiếu và dẫn giải về cảnh tàn phá, hoang tàn ở Houston và Florida mới đây mà không chiếu và dẫn giải về lộ trình và tốc độ của con mắt đỏ Harvey và Irma, lồng lộn xoáy vào từ ngoài đại dương.
Phim nói mập mờ cho rằng chiến tranh Việt Nam đã leo thang từng bước vì những tính toán sai lầm của các lãnh đạo kế tiếp nhau ở Washington.
Sự thực là năm tổng thống (Truman, Eisenhower, Kennedy, Johnson, Nixon) đã tính toán rất kỹ về quyền lợi của Mỹ như đã được chứng minh rõ ràng trong cuốn 'Khi Đồng Minh Nhảy Vào'.
Tất cả có tới 7 quyền lợi mà Mỹ muốn bảo vệ ở Biển Đông, mà Việt Nam là "địa điểm chiến lược quan trọng nhất" như Tổng Tham Mưu Mỹ đã xác định.
'The Vietnam War' thực sự bắt đầu khi Tổng thống John Kennedy mang quân tác chiến tới Việt Nam. Phim không nói sự thực về động cơ nào đã đưa ông Kennedy tới quyết định ấy. Lý do đưa quân tác chiến vào không phải là để "bảo vệ tự do của nhân dân Miền Nam" mà là vì hai cú sốc.
Thứ nhất, ngày đăng quang, ông tuyên bố "Chúng tôi sẽ trả bất cứ giá nào, xốc vác bất cứ gáng nặng nào…để bảo đảm sự sống còn và sự thành công của tự do."
Nhưng vừa tuyên bố như vậy thì phải chịu hai cái thất bại liên tục, một ở Lào và một ở Cuba. Ông tâm sự: "Tôi không thể chấp nhận cái thất bại thứ ba," cho nên ông tập trung vào Việt Nam.
Thứ hai, mùa hè 1961 ông bị một cú sốc mạnh khi Lãnh đạo Liên Xô Nikita Khrushchev thách thức ông tại cuộc họp thượng đỉnh Vienna:
Taylor, McNamara và KennedyBản quyền hình ảnh Bettmann
Image caption Tướng Maxwell Taylor và Bộ trưởng QP Robert McNamara nhận lệnh của Tổng thống JF Kennedy trước khi bay sang Nam Việt Nam thị sát tình hình chiến tranh
"Tôi muốn hòa bình, nhưng nếu ông muốn chiến tranh thì đó là vấn đề của ông."
Trở về Washington, TT Kennedy tâm sự với James Reston, trạm trưởng của tờ New York Times tại Washington và là bạn ông Kennedy:
"Ông ta đối xử với tôi như một cậu bé con… Ông ta nghĩ rằng vụ Vịnh Con Heo chứng tỏ là tôi thiếu kinh nghiệm. Có thể ông ta còn nghĩ là tôi ngu nữa. Và có thể quan trọng nhất, ông ta nghĩ tôi không có gan."
Cho nên Kennedy đã quyết định phản ứng, chọn Việt Nam làm nơi đọ sức với Liên Xô. Lúc ấy Khrushchev đang thay đổi chiến lược: chuyển từ trực tiếp đối mặt với Mỹ sang gián tiếp, từ chiến tranh quy ước tới chiến tranh du kích. Kennedy quyết định: "Việt Nam là đúng chỗ rồi." Ông đôn quân vào Miền Nam.

TT Diệm không đồng ý cho Mỹ mang quân vào

Sau quyết định ấy, cái gì đã xảy ra tại Sài Gòn thì phim Vietnam War đã bỏ qua hoàn toàn. Đây là điểm lịch sử cần phải được làm sáng tỏ: Mỹ mang quân vào trái với ý muốn của Tổng thống Ngô Đình Diệm. Muốn trung thực thì bắt buộc phải chiếu hình ảnh và phỏng vấn về điểm này. Ông Diệm chỉ yêu cầu - vì chống cộng là quyền lợi hỗ tương của cả hai nước - Hoa Kỳ yểm trợ phương tiện vật chất, hoặc là hai bên đi tới một hiệp ước quốc phòng song phương thay vì mang quân đội Mỹ vào.
Sau cùng Mỹ phải tìm hai cớ để đôn quân vào. Chúng tôi đã nghiên cứu thật kỹ và viết lại cho rõ ràng trong cuốn 'Khi Đồng Minh Nhảy Vào' (chương 15-16):
Lấy cớ huấn luyện quân đội Miền Nam: Tổng Tham Mưu Mỹ đề nghị "Để thuyết phục ông Diệm thì hay nhất là lấy cớ đem quân 'vào để huấn luyện', rồi đem một đơn vị chiến đấu quân vào đóng ở Việt Nam với công tác là giúp thiết lập hai doanh trại huấn luyện."
Lấy cớ "cứu trợ lũ lụt": Tướng Lionel McGarr, Chỉ huy trưởng cơ quan viện trợ quân sự MAAG gửi một công điện về Ngũ Giác Đài:
"Trận lụt rất nặng ở Đồng bằng Cửu Long…nặng nhất kể từ 1937 cho thấy ta có thể dùng việc cứu trợ lũ lụt để biện hộ cho việc mang quân vào làm công việc nhân đạo, để rồi có thể giữ quân đội này lại nếu muốn."
Chẳng bao lâu, cố vấn, quân nhân, CIA, ký giả thiên tả Mỹ tràn lan khắp nơi. Trong cuốn sách A Death in November, tác giả Ellen Hammer kể lại: có lần Tổng thống Diệm phàn nàn với Đại sứ Pháp Roger Lalouette: "Tôi không bao giờ yêu cầu những người quân nhân này tới đây. Họ cũng chẳng có cả hộ chiếu nữa."
Người tỵ nạn miền TrungBản quyền hình ảnh Jack Cahill
Image caption Người dân tỵ nạn di tản từ miền Trung vào Nam, tháng 4/1975
Phim không nói tới sự kiện là trước bối cảnh đó, TT Diệm ngỏ ý muốn Mỹ rút bớt cố vấn đi. Đại sứ Pháp Lalouette cho rằng "lý do chính đưa tới quyết định của Mỹ loại bỏ ông Diệm là vì vào tháng Tư năm ấy (1963), ông đã toan tính yêu cầu Mỹ rút cố vấn."
TT Diệm nhìn thấy chân trời tím, muốn tìm giải pháp hòa bình. Qua Cố vấn Ngô Đình Nhu, ông đã sắp xếp để điều đình về hiệp thương với Miền Bắc, rồi từng bước tiến tới thống nhất trong hòa bình. Thời điểm ấy, Miền Bắc đang gặp khủng hoảng về lương thực trầm trọng. Theo người môi giới giữa hai bên là ĐS Balan là ông Mieczyslaw Maneli, trong Phái đoàn kiểm soát đình chiến, thì chính phủ Miền Bắc sau cả năm suy nghĩ đã đồng ý để hợp tác với TT Diệm và Mỹ để đi bước này.
Nhưng Đại sứ Lodge, rồi Bộ trưởng McNamara và tướng Taylor báo cáo cho TT Kennedy:
"Sự ve vãn của ông Nhu với ý định điều đình (với Hà Nội) - cho dù là nghiêm chỉnh hay không đi nữa - cũng đã cho thấy có sự bất tương phùng căn bản đối với những mục tiêu của Hoa Kỳ."
Về bối cảnh đảo chính, phim chỉ chiếu cảnh Thượng tọa Thích Quảng Đức tự thiêu, thanh niên biểu tình, không nói gì về vai trò của các ký giả thiên tả (như Sheehan, Halberstam, Brown, Sully) và quan chức Mỹ (Harryman, Hillsman, Forrestal, Ball) nhất là Đại sứ Henry Cabot Lodge (chúng tôi gọi là Đao phủ Henry I) đã đưa tới đảo chính và sát hại TT Diệm.
Biến cố này là điểm ngoặt, dẫn đến xáo trộn và khủng hoảng chính trị ở Miền Nam trong hai năm tiếp theo. Trước viễn tượng Miền Nam bị sụp đổ, Tổng thống Johnson mang đại quân vào để yểm trợ. Cuộc chiến leo thang rất nhanh từ đó, và thương vong, chết chóc cũng tăng lên rất nhanh từ đó.
Bộ phim có nhiều thiếu sót và sai sót. Thiếu sót quan trọng nhất trong phần đầu là không đề cập tới trách nhiệm của Mỹ trong cuộc đảo chính và hạ sát Tổng thống Diệm. Nếu như thay vì đảo chính, Mỹ ủng hộ sáng kiến và đồng hành với Tổng thống Diệm để tìm giải pháp hòa bình thì liệu Vietnam War xảy ra hay không? Biểu tình nửa triệu người có xảy ra hay không?
Không đề cập tới những gì đã xảy ra tại Dinh Gia Long, những bi kịch, hậu quả của những quyết định của Tổng thống Kennedy, như đem quân vào, đảo chính Tổng thống Diệm thì làm sao đạo diễn Lynn Novick có thể nói rằng:
"Chúng tôi muốn biết cái gì đã xảy ra ở nơi đây … mô tả thực tại… trung thực với những bi kịch, kể câu chuyện từ nhiều phía, và tìm cách thể hiện rất nhiều trải nghiệm của người Việt Nam trong cuộc chiến?"
Hy vọng rằng trong năm phần còn lại được bắt đầu chiếu từ ngày 24/9 cuốn phim sẽ đi sâu hơn, cân đối hơn, chính xác hơn, và công bằng hơn.
Hãy trả lại cho Caesar những gì thuộc về Caesar!

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, tiến sỹ Nguyễn Tiến Hưng, Cựu Tổng trưởng Kế hoạch VNCH từ năm 1973 đến 1975, phụ tá về tái thiết của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Hiện định cư tại Hoa Kỳ, ông đã xuất bản các cuốn sách Khi Đồng minh Tháo chạy (2005) và Khi Đồng minh Nhảy vào (2016).

söndag 18 juni 2017

VÌ SAO NGƯỜI VIỆT LẠI BỎ XỨ RA ĐI? ------------ *cafekubua* ------------27 Tháng 6 lúc 05:50


Mới tuần rồi tôi ra sân bay tiễn một người quen bay đến một xứ khác. Tôi không hề đơn độc. Ở sân bay lúc đó có vô số người cũng làm điều tương tự. Họ tiễn người thân và bạn bè của họ ra đi không hẹn ngày về. Đó không phải là lần đầu và chắc chắn là sẽ không phải là lần cuối. Mặc dù cuộc chiến đã chấm dứt hơn 42 năm rồi nhưng làn sóng xuất ngoại vẫn không thay đổi. Cuộc di cư thầm lặng hiện tại không phải bằng những chiếc thuyền mà bằng những chuyến bay. Tuy đã giảm rất nhiều, giờ chỉ là một phần chút xíu so với trước đây, nhưng xu hướng này vẫn tồn tại.
Đọc báo hay lướt Facebook thì bạn có thể thấy hàng loạt các quảng cáo du học định cư, đầu tư lấy thẻ xanh hay tìm việc làm ở Nhật. Tôi không thể nào không buồn và chạnh lòng. Nhưng vì sao người Việt Nam lại ra đi? Họ không chỉ là những người nghèo bán nhà đi lao động ở Đài Loan hay những cô gái nghèo lấy chồng Hàn Quốc. Số người ngày càng trở nên khá giả và thuộc thành phần ưu tú của xã hội chúng ta. Họ là những doanh nhân, nghệ sĩ, nhà đầu tư, trí thức, giảng viên hoặc nhân viên cao cấp.
Vì sao họ lại ra đi? Có nhiều nguyên nhân, có nhiều lý do. Ở đây tôi không thể nào nói hết. Tôi chỉ có thể nói sơ sơ.
- Họ ra đi vì họ không cảm thấy an toàn.
- Họ ra đi vì họ chán cái không khí đầy ô nhiễm ở nơi này.
- Họ ra đi vì họ cảm thấy mình không được tôn trọng khi đến cơ quan nhà nước làm thủ tục.
- Họ ra đi vì đóng thuế nhiều nhưng nhận lại quá ít, hoặc chẳng nhận lại gì.
- Họ ra đi vì họ không muốn con cái họ bị thầy cô dìm và ép.
- Họ ra đi vì chính phủ liên tục ban hành những bộ luật vô lý.
- Họ ra đi vì họ phát ngán với việc doanh nghiệp của họ bị thanh tra không lý do.
- Họ ra đi vì họ lo sợ đồ ăn của họ có an toàn hay không, nó có hóa chất hay sạch hay không.
- Họ ra đi vì để tìm cái hộ chiếu mà cho phép họ đi nhiều nước mà không cần phải bỏ tiền xin visa.
- Họ ra đi vì ghét cảnh phải đút lót các y tá bác sĩ khi đi vào bệnh viện.
- Họ ra đi vì họ không tìm thấy trách nhiệm trong một xã hội vô trách nhiệm.
- Họ ra đi vì khi họ muốn sống một cuộc sống trung thực và không gian dối.
- Họ ra đi vì họ muốn làm người lương thiện, vì nơi này làm người lương thiện vô cùng khó.
- Họ ra đi vì họ muốn được hưởng lương cao, hay nói chính xác hơn là đúng giá trị với sức lao động của họ chứ không phải dựa vào mối quan hệ của họ.
- Họ ra đi vì luật pháp không hề bảo vệ họ, nó chỉ bảo vệ những ai có tiền.
- Họ ra đi vì họ muốn tìm sự công bằng.
- Họ ra đi vì muốn cầm cái lá phiếu bầu để coi nó ra sao.
- Họ ra đi vì khi họ lên tiếng nói nên những sự thật về đất nước, họ lại bị quy là phản động.
- Họ ra đi vì họ đã mất niềm tin vào đất nước, con người và chính phủ Việt Nam.
- Họ ra đi vì họ chẳng biết làm gì hơn trừ việc dùng đôi chân của họ để cất lên tiếng nói.
Việt Nam từ lâu đã không còn là một điểm đến, một nơi đáng sống. Nó chỉ là một trạm dừng chân. Nhà đầu tư đến đây để kiếm tiền, doanh nhân đến đây để nhận lương cao hơn, khách du lịch đến đây để ở khách sạn 5 sao giá rẻ và các cô cậu thanh niên đến đây để khám phá sự thú vị mà đất nước họ không có.
Nhưng bao nhiêu người sẽ ở lại và coi nơi đây là nhà? Cũng có một ít, nhưng so với số người ra đi thì là bao nhiêu %? Quá ít. Việt Nam không là nơi đến, nó không thể là nơi đến được vì chính những người dân sinh sống ở đây cũng chẳng coi nó là nhà.

tisdag 6 juni 2017

Svenska Nationaldagen- Ngày Quốc Khánh Thụy ̣Điển 6-6-2017


Thụy Điển (tiếng Thụy Điển: Sverige), tên chính thức là Vương quốc Thụy Điển (tiếng Thuỵ Điển: Konungariket Sverige), là một vương quốc ở Bắc Âu giáp Na Uy ở phía Tây và Phần Lan ở phía Đông Bắc, nối với Đan Mạch bằng cầu Öresund ở phía Nam, phần biên giới còn lại giáp Biển Baltic và Biển Kattegat.
Với diện tích 449 964 km², Thụy Điển là nước lớn thứ ba trong Liên minh châu Âu, với dân số 9.4 triệu người. Thụy Điển có mật độ dân số thấp với 21 người/ km² nhưng lại tập trung cao ở nửa phía Nam của đất nước. Khoảng 85% dân số sống ở thành thị và theo dự đoán con số này sẽ tăng dần vì quá trình đô thị hóa đang diễn ra.[3] Thủ đô của Thụy Điển là Stockholm, đây cũng là thành phố lớn nhất nước. Thành phố lớn thứ hai là Göteborg với dân số khoảng 500.000 người và 900.000 người trên tổng vùng. Thành phố lớn thứ ba là Malmö với dân số khoảng 260.000 người và 650.000 người ở tổng vùng.
Đất nước Thụy Điển độc lập và thống nhất nổi lên vào thời Trung Cổ. Vào thế kỷ 17 Thụy Điển mở rộng lãnh thổ và tạo nên Đế quốc Thụy Điển. Hầu hết lãnh thổ ngoài bán đảo Scandinavia bị mất vào thế kỷ 18 và 19. Nửa phía Đông của Thụy Điển (Phần Lan ngày nay), rơi vào tay Đế quốc Nga năm 1809. Cuộc chiến tranh cuối cùng Thụy Điển tham gia trực tiếp vào năm 1814, khi Thuỵ Điển sử dụng quân sự ép Na Uy nhập vào Liên minh Thuỵ Điển và Na Uy, một liên minh tồn tại đến tận năm 1905. Kể từ đó, Thuỵ Điển là một nước hòa bình, áp dụng chính sách đối ngoại không liên kết vào thời bình và chính sách trung lập thời chiến.[4]
Ngày nay, Thuỵ Điển là một nước quân chủ lập hiến với thể chế đại nghị và một nền kinh tế phát triển ở trình độ cao. Thụy Điển đứng đầu về chỉ số dân chủ trên thế giới theo tạp chí The Economist và đứng thứ bảy trong Liên hiệp quốc về chỉ số phát triển con người. Thụy Điển là thành viên của Liên minh châu Âu vào năm 1995 và là thành viên của OECD.

onsdag 31 maj 2017

Mùa Xuân Không Còn Nữa- Sáng Tác: Lam Phương- Trình bày và Video by UL


Anh biết em hững hờ 
Để rồi mùa xuân không còn nữa. 
Anh đã nghe mong chờ 
Đi vào bóng tối bơ vơ. 
Xa tiễn chân em về 
Đường xưa vắng ánh trăng thề 
Ngoài hiên gió rít lê thê 
Tình ơi sao quá não nề. 

Anh biết em vô tình 
Lạc vào vòng tay yêu người mới. 
Hạnh phúc đâu xa vời 
Lại tìm sóng gió chi em. 
Anh tiếc thương vô cùng 
Lời xưa ước muốn chung đường 
Niềm vui nỗi nhớ chia đôi 
Giờ đây mỗi người một nơi. 

Đêm nay trời lập đông 
Vài cơn gió se thắt lòng 
Anh nghe hồn lạnh câm 
Đi vào nuối tiếc mênh mông. 
Một thời yêu xa vắng 
Còn chăng cay đắng 
Còn nhớ thương này em biết không? 

Ngày nào ta đưa đón 
Trời giăng giăng tuyết 
Lạc lối đi tìm 
Làm sao ngăn giòng nước mắt 
Kỷ niệm vẫn còn 
Là lòng vẫn còn yêụ 

Giây phút vui bên người 
Rượu nồng tràn dâng men tình mới. 
Em có nghe bao giờ 
Tâm hồn thoáng chút hương xưạ 
Hay đã quên câu thề 
Mặc anh sớm tối đi về 
Mặc anh đếm bước lang thang 
Nghìn năm mối sầu còn mang. 

söndag 28 maj 2017

Ca Ngợi Người Mẹ ( Morsdag 28-05-2017 ) Video by UL

Nhân ngày lễ của Mẹ tạ̣i Thuỵ Điển nên UL làm bài nhạc Ca Ngợi Về Mẹ , cùng nhau chia sẻ cho vui ngày này với Mẹ của mình.